Ngoại tình có bị đi tù không? Pháp luật năm 2026 xử lý như thế nào đối với hành vi “Ngoại tình” – Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng?

Trong đời sống hôn nhân, sự chung thủy – chế độ “một vợ, một chồng”  không chỉ là nền tảng đạo đức mà còn là giá trị được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hành vi “ngoại tình” vẫn xảy ra, gây tổn hại nghiêm trọng đến tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình và trật tự xã hội

Bài viết sau đây sẽ phân tích các chế tài pháp lý hiện hành, tập trung vào hai hình phạt chính: Xử phạt vi phạm hành chính và Truy cứu trách nhiệm hình sự.

“Ngoại tình” – vi phạm chế độ hôn nhân “một vợ một chồng” là gì ?

Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và các văn bản pháp luật hướng dẫn có liên quan đều chưa có quy định cụ thể định nghĩa cho hành vi “Ngoại tình”.

Hiểu theo phương diện đạo đức, hành vi “Ngoại tình” là hành vi của một người đã kết hôn có tình cảm hoặc thể hiện mối quan hệ tình cảm với người khác không phải là vợ/chồng của họ.

Tuy nhiên, Pháp luật tập trung quy định về hành vi “Chung sống như vợ chồng”, cụ thể như sau:

Theo Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/09/2001, “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…”

Theo đó, pháp luật Việt Nam cũng đã đưa ra một số chế tài đối với hành vi vi phạm nguyên tắc Chế độ hôn nhân “một vợ, một chồng” cụ thể tuỳ thuộc vào mức độ của hành vi vi phạm:

Xử phạt hành chính hành vi “Ngoại tình”

Chế tài này được quy định tại Nghị định 82/2020/ND-CP, đây là quy định mới thay thế cho Nghị định 110/2013/NĐ-CP trước đây, với mức phạt tiền tăng lên đáng kể nhằm đảm bảo tính răn đe đối với các hành vi vi phạm.

Căn cứ Khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày …., mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng sẽ được áp dụng đối với một trong các hành vi sau:

“a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.”

Mức phạt này đã tăng so với quy định cũ (trước đây chỉ từ 1-3 triệu đồng).

Truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi “Ngoại tình”

Áp dụng đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng, gây hậu quả lớn cho gia đình và xã hội, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2019, 2025). Có hai khung hình phạt, điển hình như:

Khung 1: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đối với hành vi thuộc một trong các trường hợp:

“a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

 b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.”

Khung 2: Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với hành vi gây hậu quả rất nghiêm trọng:

“a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

 b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

Muốn tố cáo hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng, cần chứng cứ gì?

Rào cản lớn nhất chính là vấn đề chứng cứ. Việc chứng minh hành vi “chung sống như vợ chồng” phức tạp hơn nhiều so với việc bắt quả tang hành vi quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với người khác đơn thuần (những hành vi vốn chưa đủ yếu tố cấu thành tội theo luật hiện hành).

Vậy nên khi nhìn thấy hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng của đối phương, bản thân cần phải bình tĩnh thu thập những chứng cứ có giá trị chứng minh như: hình ảnh, video sinh hoạt chung, lời làm chứng, giấy khai sinh con riêng… trước khi gửi đơn tố cáo đến Cơ quan công an tại nơi xảy ra sự việc/nơi cư trú hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã/phường tại nơi xảy ra sự việc/nơi cư trú để yêu cầu xử lý.

Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và giải đáp những thắc mắc liên quan đến pháp luật:

HÃNG LUẬT DHP

HÃNG LUẬT DHP trụ sở chính: Tòa nhà The Manor 2, Số 89 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường Thạnh Mỹ Tây, Tp. Hồ Chí Minh

HÃNG LUẬT DHP Văn phòng Hà Nội: Biệt thự VA03A – 9 Villa Hoàng Thành, Phường Kiến Hưng, Tp. Hà Nội

HÃNG LUẬT DHP Văn phòng Phú Quốc: Số 25 Hùng Vương, xã Đông Hưng, tỉnh An Giang

HÃNG LUẬT DHP Văn phòng Miền Tây Nam Bộ: Số 42 Nguyễn Thị Minh Khai, Xã Châu Thới, tỉnh Cà Mau.

Hotline: 0868335186

Email: vpls.tranduchung@gmail.com

Website: dhplaw.vn

Facebook: Facebook/Luatdhp

Post Author: ahung